https://mail.huejmp.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Y Dược Huế2026-06-18T11:35:22+07:00Ban Biên tập Tạp chí Y Dược Huếtcydhue@huemed-univ.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div>https://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1171Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ HBsAg huyết thanh và một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính2026-06-16T19:17:11+07:00Nguyễn Thị Huyềnnthuyen@huemed-univ.edu.vnPhan Thị Minh Phươngptmphuong@huemed-univ.edu.vnNguyễn Vũ Thànhnvthanh.kt@huemed-univ.edu.vnNgô Viết Quỳnh Trâmnvqtram@huemed-univ.edu.vnLê Thị Bảo Chiltbchi@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Kim Loanttkloan@bv.huemed-univ.edu.vnPhạm Thanh Tườngpttuong@bv.huemed-univ.edu.vnTrần Thị Bích Ngọcttbngoc@huemed-univ.edu.vnTrương Thị Bích Phươngttbphuong@huemed-univ.edu.vnTrần Xuân Chươngtxchuong@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Định lượng kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (qHBsAg: quantitative hepatitis B surface antigen) được xem như là một dấu ấn sinh học nhằm đánh giá mức độ hoạt động của virus và theo dõi diễn tiến của bệnh ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nồng độ qHBsAg huyết thanh và khảo sát mối liên quan giữa qHBsAg với tải lượng HBV DNA và một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 56 bệnh nhân viêm gan B mạn tính tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 6/2025 đến tháng 01/2026. qHBsAg được định lượng bằng phương pháp điện hóa phát quang. Bệnh nhân được phân nhóm theo tình trạng HBeAg thành nhóm HBeAg dương tính (n=31) và nhóm HBeAg âm tính (n=25). Kết quả: Trung vị nồng độ qHBsAg huyết thanh là 3,35 log10 IU/mL (IQR: 2,55 - 4,11); nồng độ qHBsAg ở nhóm HBeAg dương tính cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm HBeAg âm tính (p < 0,001). Nồng độ qHBsAg tương quan nghịch với tuổi (r = -0,474; p < 0,001) và tương quan thuận với HBV DNA (r = 0,275; p = 0,04). Trong dự báo tải lượng HBV DNA ≥ 4,301 log10 IU/mL (20000 IU/mL), diện tích dưới đường cong ROC là 0,709 (p = 0,02), với điểm cắt tối ưu 4,21 log10 IU/mL, độ nhạy 50,0% và độ đặc hiệu 85,7%. Kết luận: Nồng độ qHBsAg huyết thanh có mối liên quan đến mức độ sao chép virus và cho thấy khả năng dự báo trung bình đối với tải lượng HBV DNA cao. Tuy nhiên, do độ nhạy còn hạn chế nên qHBsAg không thể thay thế xét nghiệm đo tải lượng HBV DNA mà chỉ nên được sử dụng như một dấu ấn sinh học bổ sung trong thực hành lâm sàng.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1172Nghiên cứu nồng độ Interleukin-6 huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính2026-06-16T19:17:12+07:00Nguyễn Thị Phướcntphuoc@huemed-univ.edu.vnPhan Thị Minh Phươngptmphuong@huemed-univ.edu.vnTrương Thị Bích Phươngttbphuong@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Kim Loanttkloan@bv.huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Huyềnnthuyen@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Bích Ngọcttbngoc@huemed-univ.edu.vnMục tiêu: Xác định nồng độ Interleukin-6 huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính và khảo sát mối liên quan giữa nồng độ Interleukin-6 huyết thanh với một số đặc điểm về tình trạng tiến triển bệnh ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có so sánh đối chứng trên 50 bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính và 35 người khỏe mạnh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 5/2024 - 5/2025. Kết quả: Trung vị, khoảng tứ phân vị nồng độ Interleukin-6 (IL-6) huyết thanh của 50 bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn ghi nhận được 240,4 (21,4 - 523,4) pg/mL và nhóm chứng khoẻ mạnh là 6,5 (5,5 - 7,8) pg/mL; p < 0,001. Phân tích ROC ghi nhận AUC = 0,971; tại điểm cắt 8,4 pg/mL, IL-6 có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 91,4%. IL-6 tương quan thuận khá chặt với thời gian phát hiện bệnh (r = 0,64; p < 0,001). Theo tình trạng HBeAg, nhóm HBeAg (+) có tỷ lệ IL-6 trên ngưỡng cao hơn nhóm HBeAg (-); p = 0,018. Có mối tương quan thuận mức độ vừa giữa IL-6 với AST (r = 0,324; p = 0,022), ALT (r = 0,384; p = 0,006) và tải lượng HBV- DNA (r = 0,454; p = 0,003). Kết luận: Nồng độ IL-6 huyết thanh tăng cao ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mạn tính so với nhóm chứng khoẻ mạnh và có tương quan thuận với thời gian mắc bệnh, enzyme gan (ALT, AST), tải lượng HBV-DNA và tình trạng HBeAg.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1173Kết quả lâm sàng sớm của phẫu thuật HoLEP nguyên khối theo tiếp cận giải phẫu trong điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt2026-06-16T19:17:13+07:00Dương Thế Anhno@gmail.comLê Phước Thànhno@gmail.comNguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comLê Đình Khánhldkhanh@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Phẫu thuật bóc nhân tuyến tiền liệt bằng laser Holmium (HoLEP) là phương pháp điều trị hiệu quả cho tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL), đặc biệt ở các trường hợp tuyến lớn. Tuy nhiên, đường cong học tập kéo dài và sự không đồng nhất kỹ thuật vẫn là những thách thức trong thực hành lâm sàng. Kỹ thuật HoLEP nguyên khối theo tiếp cận giải phẫu được phát triển nhằm duy trì liên tục mặt phẳng giữa mô tăng sinh và vỏ phẫu thuật, qua đó hỗ trợ bóc tách ổn định, kiểm soát chảy máu và bảo tồn chức năng tiểu tiện. Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâm sàng sớm của kỹ thuật HoLEP nguyên khối trong điều trị TSLTTTL. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 101 bệnh nhân TSLTTTL được phẫu thuật HoLEP nguyên khối tại Bệnh viện Đa khoa Bình Dương từ 01/2025 đến 12/2025. Các đặc điểm lâm sàng, thông số phẫu thuật và biến chứng được ghi nhận. Các chỉ số chức năng gồm IPSS, QoL, Qmax và lượng nước tiểu tồn lưu được đánh giá trước mổ và sau 1 tháng. Biến chứng được phân loại theo Clavien–Dindo. Kết quả: Tuổi trung bình là 68,9 ± 9,0 năm; IPSS trước mổ 29,1 ± 3,3 điểm; Qmax 4,9 ± 2,0 mL/s; thể tích tuyến tiền liệt trung bình 83,8 ± 39,3 mL. Thời gian phẫu thuật trung bình là 65,3 ± 24,3 phút; hiệu suất bóc nhân đạt 1,1 ± 0,3 g/phút; mức giảm hemoglobin sau mổ thấp (0,9 ± 1,1 g/dL). Tỷ lệ biến chứng chung là 11,8%, chủ yếu Clavien–Dindo độ II; tiểu không tự chủ kéo dài ghi nhận ở 0,9% trường hợp. Sau 1 tháng, IPSS giảm 76,8%, QoL cải thiện 64,3% và Qmax tăng từ 4,9 lên 26,1 mL/s (p < 0,001). Kết luận: HoLEP nguyên khối theo tiếp cận giải phẫu cho thấy hiệu quả sớm thuận lợi trong cải thiện chức năng tiểu tiện, đồng thời duy trì hiệu suất bóc nhân tốt và tỷ lệ biến chứng thấp.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1174Chọn lựa vị trí chọc dò vào thận trong lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ tư thế nằm nghiêng dưới hướng dẫn của siêu âm và C- arm2026-06-16T19:17:14+07:00Lê Đình Khánhldkhanh@huemed-univ.edu.vnNguyễn Nhật Minhnnminh@huemed-univ.edu.vnLê Đình Đạmlddam@huemed-univ.edu.vnNguyễn Xuân Mỹnxmy@huemed-univ.edu.vnMục tiêu: Khảo sát hình thái sỏi thận đã được phẫu thuật, đánh giá kết quả sạch sỏi theo từng loại cũng như theo từng vị trí chọc dò vào thận với lần mổ đầu tiên và với 1 lần chọc dò nong đường hầm vào thận. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 86 bệnh nhân sỏi thận được phẫu thuật lấy sỏi thận qua da lần đầu và với 1 đường chọc dò, nong vào thận từ 1/2024 đến 12/2024 tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Bệnh nhân được phẫu thuật với tư thế nằm nghiêng, chọc dò nong đường hầm vào thận dưới hướng dẫn của siêu âm và C-arm. Sỏi thận được phân loại dựa vào Guy’s Stone Score (GSS). Chọn vị trí chọc dò nong đường hầm vào thận dựa vào GSS, độ ứ nước của thận, hướng chọc để tiếp cận sỏi. Bệnh nhân được tái khám sau 1 tháng. Đánh giá kết quả sạch sỏi theo vị trí đài chọc, theo GSS và cả 2 yếu tố. Đánh giá tai biến, biến chứng theo Clavien-Dindo. Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ sỏi phân bố theo phân loại Guy’s stone Score I, II, III, IV lần lượt là 25,6%, 15,1%, 25,6% và 33,7%. Chọc dò và nong tạo đường hầm vào thận thành công 100% lần đầu, trong đó vào đài trên 52,3%, đài giữa 32,6% và đài dưới 15,1%. Thời gian chọc dò nong đường hầm trung bình 4,2 ± 0,3 phút. Tỉ lệ sạch sỏi sau mổ lần đầu với 1 đường hầm nong vào thận theo vị trí chọc dò lần lượt đài trên, đài giữa, đài dưới là 82,2%, 89,3% và 84,6%. Tỉ lệ sạch sỏi theo phân loại sỏi Guy’s stone score I, II, III, IV lần lượt là 100.0%, 92,3%, 81,8% và 72,4%. Không có sự khác biệt tỉ lệ sạch sỏi theo vị trí đài chọc (p>0,05), nhưng có sự khác biệt theo Guy’s stone score (p < 0,05). Kết luận: Tỉ lệ sỏi phức tạp (GSS III, và IV) chiếm hơn một nửa số bệnh nhân được phẫu thuật. Tỉ lệ sạch sỏi theo vị trí đài chọc dò nong tạo đường hầm vào thận không có sự khác biệt có ý nghĩa, nhưng có sự khác biệt theo phân loại Guy’s stone score.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1175Ứng dụng nền tảng trí tuệ nhân tạo trong phân tích mức độ phân mảnh DNA tinh trùng trước trữ lạnh và sau rã đông ở các trường hợp nam giới vô sinh2026-06-16T19:17:15+07:00Đặng Thị Hồng Nhạndthnhan@hueuni.edu.vnNguyễn Văn Trungnvtrung@bv.huemed-univ.edu.vnNguyễn Đắc Nguyênndnguyen@hueuni.edu.vnLê Minh Tâmleminhtam@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DNA fragmentation index – DFI) là một chỉ số quan trọng phản ánh tính toàn vẹn vật chất di truyền và có thể bị ảnh hưởng bởi quá trình trữ lạnh – rã đông. Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của quá trình trữ lạnh – rã đông lên DFI tinh trùng cũng như hiệu năng của hệ thống phân tích tinh trùng tự động tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân nam đến khám tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế. Mức độ phân mảnh DNA tinh trùng trước trữ lạnh và sau rã đông được đánh giá bằng phương pháp khảo sát mức độ phân tán nhiễm sắc chất tinh trùng, phân tích bằng hệ thống LensHooke X12 PRO tích hợp AI và phương pháp thủ công dưới kính hiển vi. Kết quả: Quá trình trữ lạnh – rã đông ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa thống kê chỉ số DFI; tuy nhiên mức tăng trung bình thấp (3,15 ± 3,01%). Sau rã đông, tỷ lệ tinh trùng có quầng halo lớn giảm, trong khi tỷ lệ quầng halo vừa, quầng nhỏ, không quầng và thoái hóa tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Ở các mẫu bất thường về khả năng di động và hình thái, DFI tăng rõ rệt (p < 0,001). Kết quả đánh giá DFI giữa phương pháp thủ công và hệ thống phân tích tự động tích hợp AI nhìn chung có sự tương đồng. Kết luận: Quá trình trữ lạnh – rã đông có thể làm gia tăng mức độ phân mảnh DNA tinh trùng, đặc biệt ở các mẫu có chất lượng tinh trùng kém. Hệ thống phân tích tự động tích hợp AI cho kết quả tương đồng với phương pháp đánh giá thủ công, tuy nhiên có ưu điểm trong việc phân tích số lượng tinh trùng lớn hơn và giảm sai số chủ quan của người quan sát, hỗ trợ chuẩn hóa quy trình đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng trong thực hành xét nghiệm.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1176Nghiên cứu khả năng nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang ở phụ nữ dưới 35 tuổi có số noãn trưởng thành ít hơn 52026-06-16T19:17:16+07:00Nguyễn Văn Trungnvtrung@bv.huemed-univ.edu.vnLê Minh Tâmleminhtam@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Chiến lược nuôi cấy phôi kéo dài đến giai đoạn phôi nang vẫn là một thách thức trong thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) ở nhóm bệnh nhân có số noãn trưởng thành MII (Metaphase II) thấp ngay cả ở bệnh nhân trẻ tuổi. Mục tiêu: Đánh giá khả năng hình thành phôi nang ở phụ nữ dưới 35 tuổi có dưới 5 noãn MII trong chu kỳ IVF và phân tích các yếu tố liên quan đến sự hình thành phôi nang ở nhóm đối tượng này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 100 chu kỳ IVF ở bệnh nhân < 35 tuổi với số noãn MII < 5. Các chu kỳ được phân nhóm theo số noãn MII (≤ 2 và 3 - 4 MII). Phân tích hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng khả năng hình thành phôi nang. Kết quả: Nhóm 3 - 4 MII có tỷ lệ đạt ít nhất một phôi nang cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm ≤ 2 MII (86,8% so với 65%; p = 0,014). Tuy nhiên, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi nang và phôi nang tốt giữa hai nhóm (p > 0,05). Phân tích đa biến xác định tuổi người vợ (OR = 0,68; p = 0,017) và số noãn MII (OR = 2,22; p = 0,013) là các yếu tố tiên lượng độc lập, trong khi AMH, BMI và OSI không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Số noãn trưởng thành chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo có phôi nang trong chu kỳ, chất lượng phôi nang không phụ thuộc đáng kể vào số lượng noãn trưởng thành.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1177So sánh hiệu quả của Laser Diode bước sóng 660 nm và 810 nm sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới2026-06-16T19:17:16+07:00Đặng Minh Huydmhuy@huemed-univ.edu.vnCung Thiện Hảicthai@huemed-univ.edu.vnHoàng Anh Đàohadao@huemed-univ.edu.vnNguyễn Văn Minhnvminh.rhm@huemed-univ.edu.vnTrần Tấn Tàitttai@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới là một trong những thủ thuật ngoại khoa phổ biến nhất trong nha khoa, thường đi kèm các biến chứng sau phẫu thuật như đau, sưng mặt và há miệng hạn chế, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống và khả năng lao động của bệnh nhân. Trong bối cảnh cần hạn chế sử dụng thuốc kháng viêm và giảm đau kéo dài, liệu pháp Laser Diode cường độ thấp (LLLT) được đề xuất là một phương pháp điều trị hỗ trợ tiềm năng nhờ tác dụng kích thích sinh học trên mô sống, song hiệu quả so sánh giữa các bước sóng khác nhau vẫn chưa được làm rõ. Mục tiêu: So sánh hiệu quả của Laser Diode 810 nm và 660 nm trong giảm đau, giảm sưng mặt và giảm há miệng hạn chế sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, thiết kế nửa miệng (split-mouth design), mù đơn trên 33 bệnh nhân có 2 răng khôn hàm dưới lệch đối xứng hai bên, được chiếu Laser Diode 810 nm (nhóm 1) hoặc 660 nm (nhóm 2) ngay sau phẫu thuật. Đánh giá mức độ đau (VAS) mỗi ngày trong 7 ngày; sưng mặt và há miệng hạn chế vào ngày 1, 2 và 7; hài lòng qua thang Likert 5 mức độ. Kết quả: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm VAS, sưng mặt và há miệng hạn chế giữa 2 nhóm tại tất cả các thời điểm đánh giá (p > 0,05). Điểm VAS của cả 2 nhóm bằng 0 từ ngày 5–7. Nhóm 660 nm có mức độ hài lòng về quy trình điều trị cao hơn có ý nghĩa thống kê (4,64 ± 0,49 so với 4,33 ± 0,48; p < 0,05). Kết luận: Trong phạm vi nghiên cứu này, Laser Diode 810 nm và 660 nm cho thấy hiệu quả lâm sàng tương đương nhau. Tuy nhiên, phác đồ sử dụng Laser Diode 660 nm có ưu điểm về tính thuận tiện trong quy trình chiếu và ghi nhận mức độ hài lòng cao hơn từ người bệnh.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1178Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến khả năng kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:17:17+07:00Dương Thị Ngọc Landtnlan@huemed-univ.edu.vnLê Văn Anlvandd@huemed-univ.edu.vnHoàng Thị Phương Thảohtpthao@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Nguyệtnnguyet@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Mỹ Diệuntmdieu@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 vẫn là một thách thức đáng kể trong thực hành lâm sàng, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố lâm sàng, tâm lý và hành vi. Mục tiêu: Đánh giá các yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết thông qua HbA1c ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 134 người bệnh điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế năm 2026. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp bằng các thang đo chuẩn hóa gồm DKQ-24, DDS-17 và V-DSMI. Phân tích thống kê bao gồm mô tả, so sánh, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả: Tuổi trung bình là 56,24 ± 10,12 năm; HbA1c trung bình là 7,86 ± 1,21%. Tỷ lệ người bệnh đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết theo mục tiêu điều trị cá thể hóa là 36,57%. HbA1c có tương quan thuận với BMI, thời gian được chẩn đoán và điểm DDS-17; tương quan nghịch với điểm DKQ-24 và V-DSMI. Trong mô hình hồi quy đa biến, BMI, thời gian được chẩn đoán, chế độ điều trị, trình độ học vấn, DKQ-24, DDS-17 và V-DSMI có liên quan độc lập với HbA1c; trong đó V-DSMI có độ lớn liên quan cao nhất. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết còn thấp; kiến thức ở mức trung bình; căng thẳng tâm lý còn hiện diện và tự quản lý chưa tối ưu. HbA1c liên quan đến nhiều yếu tố, đặc biệt là hành vi tự quản lý và căng thẳng tâm lý, gợi ý cần tiếp cận toàn diện trong quản lý bệnh.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1179Phân tích dựa trên dữ liệu lớn về mô hình bệnh tật và xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại Việt Nam giai đoạn 2024 - 20252026-06-16T19:17:18+07:00Trần Khánh Toàntktoan@huemed-univ.edu.vnTrần Đình Bìnhtdbinh@huemed-univ.edu.vnBối cảnh: Việt Nam hiện đang đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép và tình trạng kháng kháng sinh (AMR) ở mức báo động, ước tính gây ra khoảng 70.000 ca tử vong mỗi năm. Sự bùng nổ của chuyển đổi số y tế đã hình thành nguồn dữ liệu lớn (Big Data) với hơn 34 triệu sổ sức khỏe điện tử và bệnh án điện tử tại 1.210 bệnh viện. Phương pháp: Nghiên cứu tổng quan và phân tích dữ liệu thứ cấp từ báo cáo GLASS 2025 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các báo cáo định kỳ của Bộ Y tế và dữ liệu từ hệ thống giám định bảo hiểm y tế giai đoạn 2024 - 2025. Kết quả: Dữ liệu cho thấy các bệnh không lây nhiễm (NCDs) chiếm 84% tổng số ca tử vong; đồng thời ghi nhận sự gia tăng trở lại của các bệnh truyền nhiễm. Về AMR, khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ kháng thuốc trung bình 31,1%, mức cao nhất toàn cầu. Tỷ lệ kháng cephalosporin thế hệ 3 ở E. coli và K. pneumoniae tại Việt Nam dao động từ 55% đến hơn 70%. Xu hướng kháng carbapenem tăng trưởng với tốc độ 12-15% mỗi năm trong khu vực. Kết luận: Phân tích Big Data từ hệ thống y tế quốc gia là công cụ then chốt trong xây dựng chiến lược quản lý kháng sinh (AMS), cho phép giám sát thời gian thực và hỗ trợ ra quyết định lâm sàng chính xác.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1180Đánh giá kết quả áp dụng các yếu tố tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS) trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng2026-06-16T19:17:19+07:00Đoàn Phước Vựngdpvung@bv.huemed-univ.edu.vnNguyễn Huy Tuấnno@gmail.comNguyễn Minh Thảonmthao@huemed-univ.edu.vnPhạm Anh Vũpavu@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Quy trình tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS) đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả trong phẫu thuật đại trực tràng, đồng thời được khuyến cáo rộng rãi trong các hướng dẫn lâm sàng. So với ung thư đại tràng bên trái, phẫu thuật ung thư đại tràng bên phải đạt được sự đồng thuận cao hơn giữa các phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê và các nhóm chuyên môn trong việc triển khai các thành phần của ERAS. Áp dụng đầy đủ các yếu tố ERAS cho phẫu thuật đại tràng vẫn còn nhiều thách thức. Mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư đại tràng; 2. Đánh giá kết quả áp dụng các yếu tố tăng cường hồi phục sau phẫu thuật trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu thực hiện tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 3/2021 đến tháng 3/2025. Có 73 bệnh nhân có áp dụng ERAS được đưa vào nghiên cứu. Kết quả: Biến chứng trong mổ xảy ra ở 1,4% bệnh nhân. Tỉ lệ biến chứng sau mổ chung là 19,2%, cao hơn ở nhóm bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể (BMI) < 20 kg/m2 và ở những trường hợp có đặt dẫn lưu ổ phúc mạc. Thời gian trung bình xuất hiện trung tiện lần đầu là 2,11 ngày. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 7,18 ngày. Có 14 thành phần được áp dụng cho tất cả bệnh nhân. Sáu thành phần được thực hiện chưa đầy đủ bao gồm: không chuẩn bị đại tràng cơ học (97,3%), dự phòng buồn nôn và nôn sau mổ (76,7%), không đặt dẫn lưu ổ phúc mạc (72,6%), không đặt sonde dạ dày sau mổ (86,3%), giảm đau đa mô thức (65,8%) và nuôi dưỡng sớm sau mổ (95,9%). Ung thư đại tràng phải chiếm 46,6% số trường hợp. Kết luận: Việc áp dụng quy trình ERAS trong phẫu thuật nội soi ung thư đại tràng là an toàn, khả thi và hiệu quả trong việc cải thiện kết quả sau phẫu thuật.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1181Đánh giá chất lượng cuộc sống theo thang điểm Carolinas ở bệnh nhân được phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý thoát vị bẹn hai bên2026-06-16T19:17:20+07:00Phan Đình Tuấn Dũngpdtdung@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thanh Xuânthanhxuanbvh@gmail.comPhạm Anh Huypahuy@huemed-univ.edu.vnMục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị, đánh giá chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý thoát vị bẹn hai bên theo thang điểm Carolinas. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được thực hiện ở 34 bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán thoát vị bẹn hai bên và điều trị bằng phẫu thuật nội soi đặt tấm lưới nhân tạo tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế trong khoảng thời gian từ tháng 06/2023 đến tháng 12/2025. Sử dụng thang điểm Carolinas Comfort Scale (CCS) để đánh giá kết quả điều trị và mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý thoát vị bẹn hai bên. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 68,5 ± 12,4 tuổi (dao động 45 - 85 tuổi). Sau 1 tháng, tổng điểm Carolinas Comfort Scale (CCS) trung bình là 1,7 ± 3,1 điểm (0 - 9); trong đó điểm cảm giác lưới trung bình là 0,7 ± 1,5; điểm đau trung bình 0,9 ± 2,2 và điểm hạn chế vận động trung bình 0,2 ± 0,8. Sau 3 tháng, tổng điểm CCS giảm xuống 0,7 ± 1,6 điểm (0 - 8), với điểm cảm giác lưới 0,3 ± 0,7, điểm đau 0,4 ± 1,1 và điểm hạn chế vận động 0,1 ± 0,6. Tỷ lệ tái phát sau 1 tháng là 0% (0/34) và sau 3 tháng là 3,2% (1/34). Tỷ lệ biến chứng sau 3 tháng bao gồm: đau 5,9% (2/34), rối loạn cảm giác 5,9% (2/34), không ghi nhận nang thừng tinh, teo tinh hoàn, sa tinh hoàn hay tràn dịch màng tinh hoàn. Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị bẹn hai bên cho kết quả khả quan với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt sau phẫu thuật, thể hiện qua sự giảm điểm CCS từ tháng 1 đến tháng 3. Tỷ lệ biến chứng và tái phát thấp, không ghi nhận các biến chứng nặng. Phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn hai bên là phương pháp an toàn, hiệu quả và phù hợp trong điều trị bệnh lý này.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1182Ứng dụng mã vạch DNA vùng ITS tự động trong định danh nấm Candida: Tiềm năng ứng dụng trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện2026-06-16T19:17:20+07:00Trần Tuấn Khôittkhoi@bv.huemed-univ.edu.vnTrần Đình Bìnhtdbinh@huemed-univ.edu.vnNguyễn Viết Tứnvtu@bv.humed-univ.edu.vnHoàng Lê Bích Ngọchlbngoc@bv.huemed-univ.edu.vnVõ Văn Minh Quânvvmquan@huemed-univ.edu.vn Kittipan Samerpitakno@gmail.comĐặt vấn đề: Định danh nhanh và chính xác nấm Candida đến cấp loài hoặc phức hợp loài có vai trò quan trọng trong lựa chọn kháng nấm hợp lý và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Công cụ mã vạch ITS tự động được xây dựng nhằm chuẩn hóa bước phân tích trình tự, giảm thiểu thời gian xử lý và tạo đầu ra thuận lợi cho tích hợp vào hệ thống xét nghiệm và giám sát kiểm soát nhiễm khuẩn. Mục tiêu: Mô tả các tính năng chính của công cụ định danh mã vạch ITS tự động và đánh giá hiệu năng nhận dạng trên bộ trình tự chủng nấm men lâm sàng thông qua các chỉ số chẩn đoán tiêu chuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Công cụ được xây dựng trên cơ sở dữ liệu ITS tham chiếu gồm 134 loài nấm y khoa thuộc 7 chi và hoạt động theo bốn bước: K-mer indexing, so sánh khoảng cách K2P với ngưỡng hiệu chỉnh theo chi, báo cáo phân cấp (loài/phức hợp/chi) và cờ cảnh báo loài ẩn. Bộ dữ liệu đánh giá gồm 145 trình tự ITS, trong đó 92 trình tự từ chủng nấm men phân lập lâm sàng tại Bệnh viện Srinagarind, Thái Lan, và 53 trình tự từ các chủng chuẩn ngoài cơ sở dữ liệu thu thập từ GenBank. Các chỉ số độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương (PPV), giá trị tiên đoán âm (NPV) và thời gian xử lý được tính toán, đối chiếu với tiêu chuẩn vàng là phân tích cây phát sinh loài và so sánh hiệu năng với NCBI BLAST. Kết quả: Trên 145 trình tự được đánh giá, công cụ ghi nhận 90 dương tính thật, 52 âm tính thật, 1 dương tính giả và 2 âm tính giả. Độ chính xác đạt 97,9%, độ nhạy 97,8%, độ đặc hiệu 98,1%, PPV 98,9% và NPV 96,3%. Thời gian xử lý trung bình 0,93 giây/trình tự. Công cụ định danh đúng hoàn toàn ở mức loài đối với C. tropicalis (24/24), C. glabrata (9/9), C. krusei (4/4), và C. africana (6/6); đồng thời báo cáo an toàn ở mức phức hợp đối với C. albicans, phức hợp C. parapsilosis và phức hợp C. rugosa. So sánh với NCBI BLAST, công cụ tự động đạt độ chính xác cao hơn (97,9% so với 93,5%) và tốc độ xử lý nhanh hơn khoảng 10 lần (0,93 so với 10 giây/trình tự). Kết luận: Công cụ mã vạch ITS tự động cho thấy hiệu năng định danh cao, tốc độ xử lý nhanh và cơ chế báo cáo an toàn đối với các trường hợp khó. Giá trị nổi bật là tự động hóa phân tích trình tự, chuẩn hóa kết quả đầu ra và tiềm năng tích hợp vào quy trình quản lý kháng nấm và giám sát kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1183Kết quả điều trị thoát vị vết mổ thành bụng đường giữa bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc mở rộng trường quan sát - Rives-Stoppa (eTEP-RS)2026-06-16T19:17:22+07:00Nguyễn Thành Phúcntphuc@huemed-uni.edu.vnPhạm Minh Đứcpmduc@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thanh Xuânthanhxuanbvh@gmail.comĐặt vấn đề: Thoát vị vết mổ thành bụng đường giữa là một trong những biến chứng sau phẫu thuật vùng bụng, ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thoát vị vết mổ thành bụng đường giữa và đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc mở rộng trường quan sát - Rives-Stoppa (eTEP-RS). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu với 31 bệnh nhân thoát vị vết mổ thành bụng đường giữa được điều trị bằng phẫu thuật eTEP-RS từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 3 năm 2026 tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và bệnh viện Trung ương Huế. Kết quả: Thời gian theo dõi trung bình là 17,58 ± 11,01 tháng. Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 65,84 ± 11,04 tuổi, nữ giới chiếm tỷ lệ 61,30%, 64,52% ASA II, nguyên nhân phẫu thuật trước đó do bệnh lý ung thư có tỷ lệ cao nhất chiếm 41,94%, khối phồng là lý do chính bệnh nhân vào viện, vị trí thoát vị phần lớn là M3 với tỷ lệ 70,97%. BMI trung bình 23,01 ± 3,34 kg/m2. Chiều rộng lỗ thoát vị < 10 cm, diện tích tấm lưới nhân tạo là 299,03 ± 68,14 cm2. Thời gian phẫu thuật trung bình là 176,13 ± 57,82 phút, diện tích lỗ thoát vị và số lượng trocar sử dụng có mối tương quan thuận đến với thời gian phẫu thuật. Điểm đau trung bình khi ra viện là 1,39±0,50 điểm, thời gian nằm viện trung bình là 3,26 ± 0,82 ngày. 100% trường hợp không đặt dẫn lưu. Có 2 trường hợp (6,45%) tụ dịch. Không có trường hợp nào tái phát. Kết luận: Kỹ thuật eTEP-RS là một phương pháp hiệu quả trong điều trị thoát vị vết mổ thành bụng đường trắng giữa.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1184Đánh giá kết quả ứng dụng đầu dò siêu âm âm đạo và kênh dẫn đường tự tạo trong sinh thiết tiền liệt tuyến qua ngả trực tràng trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến2026-06-16T19:17:22+07:00Lê Đình Đạmledinhdam@huemed-univ.edu.vnNguyễn Xuân Mỹnxmy@huemed-univ.edu.vnNguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comKhánh Lê ĐìnhĐặt vấn đề: Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh lý phổ biến ở nam giới với xu hướng gia tăng tại Việt Nam. Sinh thiết tiền liệt tuyến qua ngả trực tràng dưới hướng dẫn siêu âm là phương pháp chẩn đoán tiêu chuẩn. Tuy nhiên, chi phí cao của đầu dò siêu âm trực tràng chuyên dụng và kênh dẫn đường thương mại làm khó khăn trong việc triển khai tại các cơ sở y tế có nguồn lực eo hẹp. Việc sử dụng đầu dò siêu âm âm đạo kết hợp kênh dẫn đường tự tạo là giải pháp thay thế tiềm năng cần được đánh giá về hiệu quả và an toàn. Mục tiêu: Đánh giá kết quả ứng dụng đầu dò siêu âm âm đạo và kênh dẫn đường tự tạo trong sinh thiết tiền liệt tuyến qua ngả trực tràng để chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca, 32 bệnh nhân nam nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến được sinh thiết tại Khoa Ngoại Tiết niệu – Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 03/2023 đến tháng 03/2026. Kết quả: Tuổi trung bình 73,3 ± 7,8 tuổi. Nồng độ PSA trung bình 268,5 ± 524,6 ng/mL. Tỷ lệ phát hiện ung thư tiền liệt tuyến là 75% (24/32 bệnh nhân), trong đó 75% có Gleason ≥ 8. Tỷ lệ biến chứng là 18,8% (6/32), toàn bộ đều nhẹ và tự giới hạn (tiểu máu 6,3%, chảy máu trực tràng 3,1%, tiểu rát và tiểu máu 6,3%). Không ghi nhận biến chứng nặng, nhiễm khuẩn huyết hay cần can thiệp. Kết luận: Kỹ thuật sử dụng đầu dò siêu âm âm đạo kết hợp kênh dẫn đường tự tạo là phương pháp an toàn, hiệu quả, chi phí thấp và rất phù hợp với điều kiện nguồn lực hạn chế của các cơ sở y tế Việt Nam.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1185Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm gan virus B mạn chưa điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam2026-06-16T19:17:23+07:00Lê Minh Niênlenien8991@gmail.comNgô Thị Hiền Trangno@gmail.comPhan Đức Thái Duypdtduy@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Nhiễm HBV mạn tính diễn tiến âm thầm và là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan, ung thư gan. Mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính chưa điều trị và xác định tỷ lệ bệnh nhân có chỉ định điều trị thuốc kháng virus. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 225 bệnh nhân viêm gan B mạn tính chưa điều trị kháng virus tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Quảng Nam từ tháng 04/2025 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tuổi trung bình là 44,4 ± 13,4; nhóm 40-59 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (46,7%). Tỷ lệ nam/nữ tương đương (50,2% và 49,8%). Có 46,2% bệnh nhân có tiền sử gia đình nhiễm HBV. Hoạt độ trung bình của ALT là 52,9 ± 45,2 U/L, AST là 46,2 ± 34,6 U/L, HBsAg là 3785 ± 2216 UI/ml, và trung vị HBV-DNA là 3,14 (IQR: 2,67) log10 IU/mL. Tỷ lệ HBeAg dương tính là 22,2%. Ở nhóm HBeAg âm tính, ALT tương quan thuận yếu với HBV- DNA (r = 0,295, p < 0,05). Tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chỉ định điều trị thuốc kháng virus là 42,7%. Kết luận: Bệnh nhân viêm gan B mạn chưa điều trị phần lớn trong độ tuổi lao động. Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ định điều trị kháng virus chiếm 42,7%, cho thấy nhu cầu điều trị và quản lý bệnh khá cao.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1186Đánh giá kết quả điều trị viêm nha chu không phẫu thuật có sử dụng melatonin và vitamin C2026-06-16T19:18:15+07:00Nguyễn Thị Thanh Hoàngntthoang@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Quỳnh Maittqmai@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Phương Thảontpthao.rhm@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Điều trị nha chu không phẫu thuật, bao gồm lấy cao răng và xử lý bề mặt chân răng, là phương pháp cơ bản trong kiểm soát bệnh nha chu. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc đáng kể vào đáp ứng của cơ thể người bệnh. Do đó, các liệu pháp hỗ trợ nhằm cải thiện kết quả điều trị đang ngày càng được quan tâm. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phối hợp melatonin và vitamin C trong điều trị nha chu2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1187Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng cao sau phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u (TSME)2026-06-16T19:18:16+07:00Nguyễn Ngọc Sơnsonnguyendr@gmail.comPhạm Anh Vũpavu@huemed-univ.edu.vnNguyễn Văn Hải Vânno@gmail.comNguyễn Phước Khánhno@gmail.comCao Xuân Thạnhno@gmail.comNguyễn Thanh Hùngno@gmail.comĐặt vấn đề: Chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật là một chỉ số quan trọng trong đánh giá hiệu quả điều trị ung thư trực tràng. Đối với ung thư trực tràng cao, phẫu thuật cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u là một lựa chọn thay thế cho cắt toàn bộ mạc treo trực tràng. Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, đặc điểm phẫu thuật và đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng cao sau phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên bệnh nhân ung thư trực tràng cao được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ 01/2023 đến 12/2024. Nội dung nghiên cứu bao gồm các đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm phẫu thuật. Chất lượng cuộc sống được đánh giá tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng sau mổ bằng bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-CR29. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 41 bệnh nhân. Tuổi trung bình là 62,19 ± 9,33; nam chiếm 53,7%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 9,8%, trong đó xì miệng nối chiếm 2,4% và nhiễm trùng vết mổ chiếm 7,4%. Có 82,9% bệnh nhân được điều trị bổ trợ sau mổ. Điểm sức khỏe tổng quát theo EORTC QLQ-C30 tăng từ 65,77 ± 12,18 tại 6 tháng lên 78,45 ± 10,54 tại 12 tháng. Phần lớn các chỉ số chất lượng cuộc sống theo EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-CR29 đều cải thiện ở thời điểm 12 tháng so với 6 tháng. Điều trị bổ trợ sau mổ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tại thời điểm 6 tháng nhưng không còn ảnh hưởng rõ ở thời điểm 12 tháng. Kết luận: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng cao sau phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u ở mức tốt và cải thiện theo thời gian.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1188Đánh giá kết quả sớm điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:18:17+07:00Nguyễn Vũ Phòngnvphong@bv.huemed-univ.edu.vnDương Minh Quýno@gmail.comHoàng Anh Tiếnhatien@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Kỹ thuật laser nội tĩnh mạch điều trị bệnh suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính là phương pháp điều trị ít xâm lấn, an toàn, hiệu quả, và có thể thay thế phẫu thuật trong nhiều trường hợp. Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâm sàng ngắn hạn và biến chứng sớm sau 01 tháng điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính bằng phương pháp laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu có can thiệp các bệnh nhân suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính được chẩn đoán bằng siêu âm Doppler mạch máu, được điều trị bằng laser nội tĩnh mạch và theo dõi 01 tháng sau thủ thuật tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ 08/2024 đến 03/2026. Kết quả: Nghiên cứu 59 bệnh nhân với 96 tĩnh mạch hiển bị suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính được điều trị laser nội tĩnh mạch từ 08/2024 đến 03/2026, tỉ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng: 95,8% số chân bị suy tĩnh mạch nông mạn tính không còn đau nặng chân hoặc chỉ đau chân nhẹ, 100% bệnh nhân không còn tĩnh mạch nông dãn từ C2 trở lên, 100% số chân có loạn dưỡng da do suy tĩnh mạch nông mạn tính đã lành sau khi được làm thủ thuật 01 tháng. Có ít biến chứng trong theo dõi ngắn hạn được ghi nhận trong và sau thủ thuật, không có biến chứng nặng để lại di chứng và tử vong. Thời gian nằm viện ngắn. Kết luận: Laser nội tĩnh mạch điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính là phương pháp điều trị ít xâm lấn, tỉ lệ cải thiện triệu chứng cao, an toàn, ít biến chứng, thời gian hồi phục nhanh, bệnh nhân có thể vận động ngay sau thủ thuật.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1189Nghiên cứu tỷ lệ viêm phổi nặng và các yếu tố liên quan ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Khoa Nhi, Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa2026-06-16T19:18:18+07:00Đoàn Phước Thuộcdpthuoc@huemed-univ.edu.vnLê Thị Thơmno@gmail.comNguyễn Thị Hườngnthuong@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Viêm phổi nặng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng viêm phổi nặng là cần thiết nhằm đề ra chiến lược điều trị và dự phòng thích hợp, giúp làm giảm tỷ lệ tử vong do viêm phổi nặng ở trẻ em. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm phổi nặng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện 261 trẻ em viêm phổi từ 2 tháng đến 5 tuổi từ tháng 6 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025. Viêm phổi nặng được chẩn đoán theo tiêu chí của Bộ Y tế ban hành. Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 20.0. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để phân tích các yếu tố liên quan đến viêm phổi nặng. Kết quả: Tỷ lệ viêm phổi nặng ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi là 38,3%. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng viêm phổi nặng lần lượt là: Trẻ suy dinh dưỡng (OR = 2,670; KTC 95%: 1,026 - 6,949; p = 0,026), trẻ sinh non (OR = 2,679; KTC 95%: 1,285 - 5,583; p = 0,009) và trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (OR = 0,348; KTC95%: 0,200 - 0,590; p = 0,026). Kết luận: Viêm phổi nặng là vấn đề sức khỏe cần được quan tâm. Cần thực hiện truyền thông và khuyến cáo các bậc phụ huynh tăng cường các biện pháp chăm sóc dinh dưỡng, nuôi con bằng sữa mẹ và hạn chế nguy cơ sinh non là một trong những biện pháp nhằm giảm tỷ lệ mắc viêm phổi nặng ở trẻ em.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1190Thực trạng lo âu trước phẫu thuật và các yếu tố liên quan ở người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng2026-06-16T19:18:19+07:00Nguyễn Hồ Anh Thưanhthunguyenho2001@gmail.comPhạm Thị Ngânno@gmail.comLê Thị Ánh Tuyếtno@gmail.comĐặt vấn đề: Phẫu thuật là phương thức điều trị chủ đạo trong các bệnh lý tiêu hóa; tuy nhiên, lo âu trước phẫu thuật là một phản ứng tâm lý thường gặp, có thể ảnh hưởng bất lợi đến kết quả điều trị và quá trình hồi phục sau phẫu thuật. Việc nhận diện và đánh giá tình trạng này có ý nghĩa quan trọng trong thực hành lâm sàng điều dưỡng. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng lo âu trước phẫu thuật và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện trên 140 người bệnh có chỉ định phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 10/2025 đến tháng 01/2026. Lo âu được đánh giá bằng thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale – Anxiety (HADS-A). Trong mô hình hồi quy, biến phụ thuộc là tình trạng lo âu trước phẫu thuật của người bệnh, được xác định bằng thang điểm HADS-A và phân loại thành hai nhóm: có lo âu (HADS-A ≥ 8 điểm) và không lo âu (HADS-A < 8 điểm). Các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có biểu hiện lo âu trước phẫu thuật theo ngưỡng HADS-A là 63,57%, trong đó lo âu rõ rệt chiếm 51,43%. Mối lo ngại phổ biến nhất là đau sau phẫu thuật (85,7%). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy số lần phẫu thuật trước đây (aOR = 0,36; KTC 95%: 0,16 - 0,78; p = 0,01) và thời gian chờ phẫu thuật ≤ 10 ngày (aOR = 0,39; KTC 95%: 0,17 - 0,88; p = 0,02) có liên quan độc lập đến tình trạng lo âu. Kết luận: Lo âu trước phẫu thuật là vấn đề phổ biến ở người bệnh phẫu thuật tiêu hóa. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tích hợp sàng lọc và hỗ trợ tâm lý trong chăm sóc tiền phẫu, đồng thời tối ưu hóa quy trình phẫu thuật nhằm giảm thời gian chờ và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1191Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh đau lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng điều trị tại Bệnh viện C Đà Nẵng2026-06-16T19:18:19+07:00Đặng Thị Tuyếtno@gmail.comTrương Thị Ái Nhânainhanbvc@gmail.comĐặt vấn đề: Đau lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh lý phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi, ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Việc đánh giá chất lượng cuộc sống giúp phản ánh toàn diện tình trạng người bệnh và hiệu quả điều trị. Mục tiêu: (1) Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh đau lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng; (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 116 người bệnh tại khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện C Đà Nẵng từ 04/2025 đến 09/2025. Sử dụng thang điểm SF-36. Kết quả: Điểm chất lượng cuộc sống trung bình tăng từ 61,6 ± 16,2 khi vào viện lên 77,0 ± 18,4 khi ra viện. Tỷ lệ người bệnh có chất lượng cuộc sống khá tốt tăng từ 23,3% lên 71,5% sau điều trị. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm giới tính, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh và BMI (p < 0,05). Kết luận: Chất lượng cuộc sống của người bệnh có xu hướng cải thiện sau điều trị. Một số yếu tố liên quan bao gồm giới tính, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh và BMI. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe, kiểm soát cân nặng và quản lý bệnh sớm nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1192Đánh giá hiệu lực của toán đồ Young Academic Urologists trong tiên lượng kết quả cắt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo2026-06-16T19:18:20+07:00Nguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comCường Quang Cườngdqcuong@huemed-univ.edu.vnNguyễn Đặng Đình Thithinguyenmd@gmail.comNguyễn Xuân Mỹnxmy@huemed-univ.edu.vnLê Đình Đạmledinhdam@huemed-univ.edu.vnTrần Quý Đôntqdon@huemed-univ.edu.vnNguyễn Khoa Hùngnkhung@huemed-univ.edu.vnLê Đình Khánhldkhanh@huemed-univ.edu.vnMục tiêu: Đánh giá hiệu lực của toán đồ Young Academic Urologist trong tiên lượng kết quả phẫu thuật cắt đốt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, trên 63 bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt được điều trị bằng phẫu thuật cắt đốt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 3 năm 2022 đến tháng 9 năm 2024. Kết quả: Phẫu thuật cắt đốt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo tại bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế có tỷ lệ thành công 65,1% theo tiêu chuẩn điểm IPSS giảm tối thiểu 50% và lưu lượng dòng tiểu tối đa tăng tối thiểu 100% sau 3 tháng phẫu thuật. Khả năng dự đoán thất bại của toán đồ YAU sau phẫu thuật cắt đốt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế có kết quả trung bình là 0,8 ± 0,15, với giá trị nhỏ nhất là 0,2 và giá trị lớn nhất là 0,999. Toán đồ YAU cho kết quả tiên lượng với diện tích dưới đường cong ROC (AUROC) là 74,8%. Điểm cắt của toán đồ là 83,5% có độ nhạy 77,3% độ đặc hiệu 68,3%. Kết luận: Toán đồ Young Academic Urologists là một công cụ có giá trị tiên lượng kết quả phẫu thuật cắt đốt tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua nội soi niệu đạo.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1193Nghiên cứu kiến thức, thái độ sử dụng thuốc chống đông máu đường uống ở bệnh nhân rung nhĩ điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Huế2026-06-16T19:18:21+07:00Phạm Thị Quỳnh Nhưno@gmail.comLê Chuyểnlechuyen@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Điều trị dự phòng đột quỵ cũng như thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ bằng thuốc chống đông máu đường uống (OAC) mang lại lợi ích rõ rệt. Hiệu quả và tính an toàn của việc điều trị chống đông chỉ được đảm bảo khi bệnh nhân có kiến thức tốt và thái độ tích cực. Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ sử dụng OAC ở bệnh nhân rung nhĩ điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 bệnh nhân rung nhĩ điều trị ngoại trú sử dụng OAC tại Khoa Khám bệnh - Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Huế từ 4/2024 đến 3/2025. Kiến thức được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi Anticoagulation Knowledge Tool của tác giả Obamiro đã được dịch thuật, thẩm định và thích ứng văn hóa. Thái độ được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi của tác giả Li. Kết quả: Trong số 385 bệnh nhân rung nhĩ sử dụng OAC, tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đạt chiếm 25,7% với điểm kiến thức chuẩn hóa trung bình là 46,9% (18,7). Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ tích cực về OAC chiếm 30,6%. INR đạt mục tiêu có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức và thái độ của bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K (VKA). Trình độ văn hoá từ trung học phổ thông trở lên, tư vấn của cán bộ y tế có liên quan đến kiến thức của người bệnh. Bên cạnh đó, thời gian sử dụng thuốc trên 2 năm, tư vấn của cán bộ y tế và kiến thức đạt có liên quan đến thái độ của bệnh nhân sử dụng OAC. Kết luận: Tỉ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về OAC còn thấp, bệnh nhân chưa có kiến thức đúng chủ yếu liên quan đến các vấn đề về tương tác thuốc, tác dụng không mong muốn của thuốc, ngưỡng INR, loại vitamin ảnh hưởng quan trọng đến liệu pháp chống đông.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1194Rối loạn cương dương và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nam có hậu môn nhân tạo tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng2026-06-16T19:18:22+07:00Phạm Thị Ngânno@gmail.comLê Thị Ánh Tuyếtleanhtuyet010697@gmail.comHà Thị Huyền Trangno@gmail.comĐặt vấn đề: Hậu môn nhân tạo thường được chỉ định trong điều trị ung thư đại trực tràng và có thể ảnh hưởng đến chức năng cương dương, tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nam. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn ít được quan tâm trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng rối loạn cương dương và xác định một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nam mang hậu môn nhân tạo. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 75 bệnh nhân nam mang hậu môn nhân tạo tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng từ tháng 4/2025 đến tháng 11/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi kết hợp thang điểm International Index of Erectile Function-5 (IIEF-5). Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 51,68 ± 7,19 tuổi. Sau phẫu thuật, 84,0% bệnh nhân suy giảm hoạt động tình dục. Theo IIEF-5, 90,7% bệnh nhân có rối loạn cương dương, trong đó 50,7% ở mức trung bình đến nặng. Phần lớn bệnh nhân lo lắng về túi hậu môn nhân tạo khi quan hệ (66,7%) và tự ti về hình thể (68,0%). Đa số bệnh nhân chưa từng được tư vấn tình dục sau phẫu thuật (89,3%). Tư vấn tâm lý – tình dục có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng rối loạn cương dương (p < 0,001). Kết luận: Rối loạn cương dương là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân nam mang hậu môn nhân tạo. Cần tăng cường tư vấn tâm lý – tình dục trong chăm sóc toàn diện cho nhóm bệnh nhân này.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1195Phân tích dạng sai sót và tác động (FMEA) trong cải tiến chất lượng bệnh viện và nâng cao an toàn người bệnh: Tổng quan hệ thống2026-06-16T19:18:23+07:00Nguyễn Văn Tàinvtai@bv.huemed-univ.edu.vnDương Thị Ngọc Landtnlan@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Khoảng 10% người bệnh nội trú gặp sự cố bất lợi, phần lớn có thể phòng ngừa. Phân tích dạng sai sót và tác động (FMEA) là công cụ quản lý rủi ro chủ động giúp nhận diện sai sót tiềm ẩn trước khi xảy ra. Mục tiêu: Tổng hợp bằng chứng hiện có về ứng dụng FMEA trong bệnh viện, đồng thời mô tả và nhận xét các kết quả ứng dụng FMEA trong cải tiến chất lượng và an toàn người bệnh ở một số lĩnh vực lâm sàng. Phương pháp: Tổng quan hệ thống theo hướng dẫn PRISMA 2020 trên các cơ sở dữ liệu PubMed, Scopus và Web of Science giai đoạn 2000-2025. Dữ liệu được trích xuất và tổng hợp theo phương pháp định tính. Kết quả: Tổng cộng 35 nghiên cứu được đưa vào phân tích. FMEA được ứng dụng chủ yếu trong các quy trình có nguy cơ cao như quản lý thuốc, xét nghiệm, truyền máu, phẫu thuật và xạ trị. Các nghiên cứu thường ghi nhận thay đổi chỉ số RPN, giảm sai sót quy trình, cải thiện tuân thủ và tăng cường an toàn người bệnh sau khi triển khai FMEA. Một số nội dung thường được đề cập trong triển khai FMEA gồm chuẩn hóa quy trình, sử dụng bảng kiểm và ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ đánh giá nguy cơ. Kết luận: Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy FMEA có tiềm năng hỗ trợ nhận diện nguy cơ và cải tiến một số quy trình bệnh viện, đặc biệt ở các quy trình đa bước và nguy cơ cao. Tuy nhiên, cần thêm các nghiên cứu với thiết kế chặt chẽ hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và khả năng ứng dụng của FMEA trong các bối cảnh bệnh viện khác nhau.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1196Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình chi dưới tại Bệnh viện Đà Nẵng2026-06-16T19:18:23+07:00Đoàn Thị Minh Diệuno@gmail.comLê Chuyểnlechuyen@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM) là bệnh lý đứng thứ 3 trong số các nguyên nhân tử vong tim mạch tại các nước phát triển. Người bệnh phẫu thuật chỉnh hình lớn chi dưới như thay khớp háng, thay khớp gối và phẫu thuật gãy xương đùi có nguy cơ cao với tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu ước tính từ 40 - 60% trên nhóm người bệnh không được dự phòng. Việc sử dụng thuốc chống đông cần được tối ưu hóa do nguy cơ chảy máu và khoảng điều trị hẹp. Mục tiêu: Đánh giá tình hình sử dụng thuốc, tính phù hợp dự phòng TTHKTM và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình chi dưới tại Bệnh viện Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân ≥ 18 tuổi phẫu thuật chỉnh hình chi dưới và có sử dụng thuốc chống đông dự phòng TTHKTM từ tháng 5/2024 đến tháng 4/2025. Kết quả: Thuốc sử dụng là rivaroxaban (57,3%), phối hợp enoxaparin và rivaroxaban (32%), enoxaparin (4,7%) và phối hợp khác (6,0%). Tổng thời gian dùng thuốc trung bình 16,3 ± 7,1 ngày. Lựa chọn thuốc phù hợp 46,7%, liều dùng phù hợp 86,7%, thời điểm bắt đầu phù hợp 50,7%, tổng thời gian sử dụng phù hợp 42%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho kết quả: (1) bệnh nhân có nguy cơ TTHKTM trung bình (gồm trung bình cao, trung bình thấp) theo VNHA 2022 có nguy cơ lựa chọn thuốc không phù hợp cao gấp 20,789 lần (p < 0,001); (2) chẩn đoán gãy xương (OR = 3,911), bắt đầu bằng rivaroxaban (OR = 29,581) và nguy cơ TTHKTM cao theo VNHA 2022 (OR = 3,254) liên quan đến không phù hợp thời điểm bắt đầu (p < 0,05); (3) nam giới (OR = 2,722) và tuổi ≥ 60 (OR = 4,655) liên quan đến không phù hợp tổng thời gian sử dụng (p < 0,05). Kết luận: Tính phù hợp trong dự phòng TTHKTM bằng thuốc theo VNHA 2022 đạt cao nhất ở tiêu chí liều dùng với tỷ lệ 86,7%. Trong khi đó, tỷ lệ phù hợp về lựa chọn thuốc, thời điểm bắt đầu sử dụng và thời gian sử dụng thuốc còn hạn chế. Do đó, cần tăng cường rà soát, cập nhật và chuẩn hóa quy trình kê đơn nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cũng như đảm bảo an toàn cho người bệnh trong dự phòng TTHKTM.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1197Đánh giá kết quả tạo hình khuyết hổng phần mềm trong phẫu thuật khối u vùng mặt bằng vạt tại chỗ2026-06-16T19:18:24+07:00Nguyễn Ngọc Hưng Duyno@gmail.comTrần Tấn Tàitttai@huemed-univ.edu.vnHoàng Minh Phươnghmphuong.rhm@huemed-univ.edu.vnNguyễn Trần Thúc Huânntthuan@huemed-univ.edu.vnNguyễn Văn Cầunvcau@huemed-univ.edu.vnNguyễn Văn Minhnvminh.rhm@huemed-univ.edu.vnHoàng Vũ Minhhvminh.rhm@huemed-univ.edu.vnĐặng Minh Huydmhuy@huemed-univ.edu.vnLê Văn Nhật Thắnglvnthang@hueuni.edu.vnVõ Khắc Trángvktrang@huemed-univ.edu.vnNguyễn Hoàng Lânnhlan.rhm@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Khối u vùng mặt là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ảnh hưởng tới chức năng và thẩm mỹ của bệnh nhân. Vạt tại chỗ là phương pháp tối ưu để phục hồi các khuyết hổng vùng mặt. Mỗi loại khối u khác nhau có bản chất và các yêu cầu về phẫu thuật khác nhau, việc tạo hình cho các khuyết hổng cũng không giống nhau ở các đơn vị thẩm mỹ của vùng mặt. Mục tiêu: Nhằm làm rõ thêm về giá trị sử dụng của vạt tại chỗ và từ đó đưa ra chỉ định phù hợp khi lựa chọn vạt tạo hình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, có can thiệp lâm sàng với 31 bệnh nhân có khối u vùng mặt được phẫu thuật cắt bỏ u và tạo hình bằng vạt tại chỗ tại khoa Tai Mũi Họng – Mắt – Răng Hàm Mặt và khoa Ung Bướu Bệnh viện trường Đại học Y Dược, Đại học Huế từ tháng 06/2022 đến tháng 09/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,65 ± 17,27. Vị trí hay gặp nhất là vùng má (35,5%), liên quan đến hai đơn vị giải phẫu hay gặp nhất là má, mũi với 9,7%. Tạo hình khuyết hổng sau phẫu thuật ung thư biểu mô tế bào đáy với 58,1%, ung thư biểu mô tế bào vảy với 16,1% và 25,8% trường hợp là u lành tính. Kích thước khuyết hổng trung bình là 2,73 ± 1,34 cm. Vạt tại chỗ được sử dụng với 17 vạt dồn đẩy, 11 vạt xoay và 3 vạt chuyển. Sau phẫu thuật các vạt đều sống tốt hoàn toàn và che phủ hoàn toàn khuyết hổng. Tái khám sau 3 tháng với kết quả tốt 83,9%, kết quả khá 16,1%. Tái khám sau 6 tháng ghi nhận 100% vạt tương đồng về màu sắc, độ dày và độ mềm mại, kết quả tốt 88,5% và kết quả khá 11,5%. Kết luận: Vạt tại chỗ là một lựa chọn phù hợp và hiệu quả đối với khuyết hổng vừa và nhỏ ở vùng mặt. Lựa chọn vạt cần dựa trên sự phân tích kĩ các đặc điểm của tổn thương và tôn trọng các đơn vị giải phẫu của vùng mặt.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1198Ứng dụng phác đồ phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) trong phẫu thuật nội soi xuyên phúc mạc tạo hình khúc nối bể thận - niệu quản ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Huế2026-06-16T19:18:25+07:00Mai Trung Hiếuno@gmail.comPhạm Như Hiệpno@gmail.comNguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comĐặt vấn đề: Phục hồi sớm sau phẫu thuật (Enhanced Recovery After Surgery - ERAS) là chiến lược chăm sóc chu phẫu đa mô thức nhằm giảm thiểu đáp ứng stress phẫu thuật, rút ngắn thời gian hồi phục và giảm biến chứng. Trong lĩnh vực tiết niệu nhi khoa, ERAS đã được chứng minh an toàn và hiệu quả trong phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối bể thận - niệu quản (KNBT-NQ). Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu và tính khả thi của ERAS trong phẫu thuật nội soi tạo hình KNBT-NQ ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 35 bệnh nhi được chẩn đoán bệnh lý khúc nối bể thận - niệu quản (BLKNBT-NQ), được phẫu thuật nội soi xuyên phúc mạc và tạo hình KNBT-NQ theo kỹ thuật Anderson-Hynes kết hợp phác đồ ERAS tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2025. Phác đồ ERAS gồm: tư vấn và chuẩn bị bệnh nhi trước mổ, rút ngắn thời gian nhịn ăn, không đặt dẫn lưu hoặc rút dẫn lưu sớm trong ngày đầu, giảm đau đa mô thức không opioid, nuôi dưỡng sớm và vận động sớm. Kết quả: Tuổi trung bình 4,8 ± 3,2 tuổi, 71,4% bệnh nhi nam, thận trái chiếm 65,7%. Thời gian phẫu thuật trung bình 142,3 ± 28,6 phút, không có trường hợp nào chuyển mổ mở. Thời gian uống nước/sữa trở lại trung bình 6,8 ± 1,4 giờ, thời gian nằm viện sau mổ 3,1 ± 0,8 ngày, 80% bệnh nhi xuất viện trong vòng 3 ngày. Điểm đau VAS tại 24 giờ là 2,4 ± 0,9, không có bệnh nhi nào cần sử dụng opioid. Tỷ lệ biến chứng sớm 5,7%, không có trường hợp tái nhập viện trong 30 ngày. Tỷ lệ thành công phẫu thuật sau 12 tháng đạt 97,1%. Kết luận: Áp dụng phác đồ ERAS trong phẫu thuật nội soi tạo hình KNBT-NQ ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Huế khả thi, an toàn và góp phần rút ngắn thời gian hồi phục, kiểm soát đau hiệu quả mà không làm gia tăng biến chứng hay tái nhập viện.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1199Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của động tác dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng trong Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thể Phế Thận hư2026-06-16T19:18:26+07:00Nguyễn Quốc An Vinhnguyenquocanvinh@gmail.comVũ Văn Sơndrson1968@gmail.comĐỗ Thị Phương Thảobsdophuongthao@gmail.comNguyễn Thị Hà Anhhaanhnguyen75@gmail.comNguyễn Thị Nguyệt Ánhgiacmoxinh85@gmail.comPhạm Thị Hườngphamhuong92NA@gmail.comNguyễn Thị Thanh Hoàluongbichan@gmail.comNguyễn Hoài Văndrnguyenhoaivan@gmail.comTrần Khánh Lytranly3002@gmail.comNguyễn Hoàng Khôi Nguyênnguyen.24d0143@huemed-univ.edu.vnNguyễn Văn Hưngnvhung.yhct@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) là bệnh hô hấp mạn tính tiến triển, đặc trưng bởi các triệu chứng khó thở, ho, khạc đờm. Việc kết hợp điều trị bằng y học hiện đại với phương pháp dưỡng sinh Y học cổ truyền là hướng tiềm năng. Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thể phế thận hư và đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị bằng phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 60 bệnh nhân COPD thể phế thận hư, được chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu (n = 30): bệnh nhân được điều trị bằng tập động tác dưỡng sinh kết hợp với dùng thuốc y học hiện đại (YHHĐ); nhóm chứng (n = 30): điều trị thuốc YHHĐ theo phác đồ Bộ Y tế. Kết quả: Sau can thiệp, nhóm nghiên cứu ghi nhận cải thiện có ý nghĩa về mức độ khó thở theo thang điểm mMRC, trong khi các chỉ số chức năng hô hấp duy trì ổn định. Đồng thời, các biểu hiện theo Y học cổ truyền như chất lưỡi và rêu lưỡi có xu hướng cải thiện, cho thấy hiệu quả tích cực bước đầu của phương pháp điều trị. Kết luận: Phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng góp phần hỗ trợ cải thiện triệu chứng lâm sàng, mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân COPD thể phế thận hư; tuy nhiên chưa ghi nhận sự cải thiện có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ số chức năng thông khí trong thời gian nghiên cứu.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1200Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ hs-Troponin T huyết thanh với đặc điểm lâm sàng của bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh2026-06-16T19:18:27+07:00Phan Phước Thùy Nhipptnhi@huemed-univ.edu.vnPhan Hùng Việtphviet@huemed-univ.edu.vnTrần Kiêm Hảohaotrankiem@gmail.comLinh Hoàng Mailinhhang7579@gmail.comNguyễn Thị Thảo Trinhdoctorthaotrinh@gmail.comNguyễn Nồmnguyennom.hue@gmail.comĐặt vấn đề: Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là dị tật bẩm sinh thường gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Việc định lượng nồng độ hs-Troponin T máu đóng vai trò quan trọng trong xác định các tổn thương tiến triển của cơ tim trong bệnh TBS, qua đó góp phần theo dõi cũng như tiên lượng bệnh. Mục tiêu: Mô tả nồng độ hs-Troponin T huyết thanh và khảo sát mối liên quan giữa nồng độ hs-Troponin T huyết thanh với đặc điểm lâm sàng của bệnh TBS ở trẻ sơ sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 102 trẻ sơ sinh bị bệnh TBS được chẩn đoán xác định bằng siêu âm Doppler màu tim, nhập viện tại Trung tâm Nhi khoa – Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 05/2023 đến tháng 08/2025. Kết quả: Giá trị trung vị của nồng độ hs-Troponin T là 0,093 ng/mL. Nồng độ hs-Troponin T cao hơn có ý nghĩa thống kê ở trẻ non tháng, trẻ có biến chứng suy tim và tăng áp phổi (p < 0,05). Ứng dụng đường cong ROC và diện tích dưới đường cong ROC (AUC) cho giá trị điểm cắt hs-Troponin T là 0,0345 ng/mL có giá trị thấp trong tiên đoán tử vong với độ nhạy 94,7%, độ đặc hiệu 28,1% (AUC = 0,626; p = 0,034). Kết luận: hs-Troponin T là chất chỉ điểm sinh học có giá trị trong đánh giá biến chứng của bệnh TBS ở trẻ sơ sinh, tuy nhiên giá trị tiên đoán tử vong của hs-Troponin T trong nhóm bệnh này còn hạn chế.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1201Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị bệnh lý nứt kẽ hậu môn mạn tính2026-06-16T19:18:54+07:00Nguyễn Đoàn Văn Phúndvphu@huemed-univ.edu.vnDương Hồ Thảo Nhidhtnhi.24nt031@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Nứt kẽ hậu môn là bệnh lý ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bên cạnh điều trị nội khoa trong giai đoạn cấp tính, đối với các vết nứt kẽ hậu môn mạn tính, phẫu thuật cắt cơ thắt trong kiểu kín cho kết quả rất tốt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả và theo dõi dọc được thực hiện trên 19 bệnh nhân đã được chẩn đoán nứt kẽ hậu môn mạn tính. Thời gian nghiên cứu từ 01/01/2024 đến 01/04/2026. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật được thu thập và phân tích. Kết quả: Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là chảy máu hậu môn (78,9%) và đau liên quan đến đại tiện (100%). Nứt kẽ hậu môn hướng 6h chiếm tỉ lệ cao nhất (78,9%), tiếp đến là hướng 12h (42,1%). Biến chứng sớm sau mổ được ghi nhận gồm chảy máu hậu môn gặp trong 1 bệnh nhân. Khả năng tự chủ hậu môn cũng là một tiêu chí đánh giá kết quả phẫu thuật, 100% bệnh nhân đều tự chủ hậu môn bình thường tại thời điểm hậu phẫu tháng thứ 3. Điểm hài lòng trung bình của bệnh nhân là 8,21 ± 0,86. Kết luận: Điều trị phẫu thuật trong bệnh nứt kẽ hậu môn mạn có kết quả tốt.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1202Khảo sát tình trạng rối loạn cương dương và rối loạn xuất tinh của bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt được điều trị nội khoa2026-06-16T19:18:55+07:00Võ Minh Nhậtvmnhat@huemed-univ.edu.vnLê Đình Đạmledinhdam@huemed-univ.edu.vnNguyễn Xuân Mỹnxmy@huemed-univ.edu.vnNguyễn Đức Anh Quânno@gmail.comNguyễn Khoa Hùngnkhung@huemed-univ.edu.vnLê Đình Khánhldkhanh@huemed-univ.edu.vnNguyễn Trường Anntan@huemed-univ.edu.vnNguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comĐặt vấn đề: Tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) là một bệnh lí phổ biến ở nam giới lớn tuổi. Điều trị nội khoa được khuyến cáo cho các trường hợp có triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS) từ trung bình đến nặng. Các chiến lược điều trị khác nhau đối với tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt có thể ảnh hưởng đến chức năng tình dục của bệnh nhân. Mục tiêu: Khảo sát tình trạng rối loạn cương dương (RLCD) và rối loạn xuất tinh (RLXT) của bệnh nhân TSLTTTL trước và sau điều trị nội khoa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 80 bệnh nhân TSLTTTL được điều trị nội khoa tại phòng khám Ngoại tiết niệu – Nam khoa Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 63,0 ± 5,9. Mức độ RLCD và RLXT có mối tương quan thuận với điểm điểm triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS) và tương quan nghịch với lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) (p < 0,05). Tỉ lệ bệnh nhân gặp RLCD và RLXT ở nhóm điều trị phối hợp (Alfuzosin và Dutasteride) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sử dụng đơn trị liệu Alfuzosin. Kết luận: Điều trị nội khoa TSLTTTL với phác đồ phối hợp thuốc chẹn alpha và thuốc ức chế 5-alpha reductase (Alfuzosin + Dutasteride) có khả năng làm suy giảm chức năng cương dương và xuất tinh đáng kể so với chỉ dùng Alfuzosin đơn độc sau 3 tháng.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1203Nghiên cứu kết cục thai kỳ ở sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:18:56+07:00Hồ Ngọc Đứchnduc@huemed-univ.edu.vnPhan Đức Thái Duypdtduy@huemed-univ.edu.vnNguyễn Đăng Lưundluu@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Kim Anhntkanh@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Mang thai ở tuổi vị thành niên là vấn đề sức khỏe sinh sản đáng quan tâm do làm tăng nguy cơ bất lợi cho mẹ và trẻ sơ sinh. Việc đánh giá đặc điểm và kết cục thai kỳ ở nhóm đối tượng này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp tại địa phương. Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ của sản phụ vị thành niên đến sinh tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 128 thai phụ vị thành niên từ 13 đến 19 tuổi, tuổi thai từ 22 tuần trở lên, nhập viện theo dõi sinh tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 5 năm 2025. Số liệu về đặc điểm chung, lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ được thu thập và xử lý bằng phần mềm thống kê với mức ý nghĩa (p < 0,05). Kết quả: Tuổi trung bình của sản phụ là 17,92 tuổi; nhóm từ 18 đến 19 tuổi chiếm 65,6%. Tuổi thai trung bình khi sinh là 38,0 tuần; tỷ lệ sinh non là 12,5%. Tỷ lệ mổ lấy thai là 15,6% với nguyên nhân thường gặp là thai suy và chuyển dạ đình trệ. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là 14,8%. Tỷ lệ kết cục thai kỳ bất lợi chung là 54,7%. Tuổi mẹ thấp < 18 tuổi có liên quan với kết cục thai kỳ bất lợi, sinh non và trẻ sơ sinh cần điều trị tích cực so với tuổi mẹ ≥ 18 tuổi. Kết luận: Sản phụ vị thành niên có tỷ lệ kết cục thai kỳ bất lợi cao. Tuổi mẹ thấp (< 18 tuổi) có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ cao hơn về kết cục bất lợi, sinh non và trẻ sơ sinh điều trị tích cực.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1204Khảo sát hội chứng tiết niệu - sinh dục ở phụ nữ quanh mãn kinh theo thang điểm DIVA2026-06-16T19:18:57+07:00Lê Lam Hươngllhuong@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Thu Thảonttthao@huemed-univ.edu.vnVõ Hoàng Lâmvhlam@huemed-univ.edu.vnLê Minh Tâmleminhtam@huemed-univ.edu.vnNguyễn Võ Thuỳ Tiênnvttien@huemed-univ.edu.vnTrần Thiện Thànhttthanh@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Hội chứng tiết niệu - sinh dục quanh mãn kinh (Genitourinary Syndrome of Menopause - GSM) là tình trạng thường gặp ở phụ nữ quanh và sau mãn kinh do suy giảm estrogen, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động đa chiều của GSM trong thực hành lâm sàng vẫn còn hạn chế. Thang điểm DIVA (Day–to-Day Impact of Vaginal Aging) là công cụ chuẩn hóa giúp đánh giá khách quan mức độ ảnh hưởng của hội chứng này. Mục tiêu: Khảo sát mức độ ảnh hưởng của hội chứng tiết niệu - sinh dục ở phụ nữ quanh mãn kinh theo thang điểm DIVA và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 136 phụ nữ từ 40 tuổi trở lên đến khám tại phòng khám Sản phụ khoa, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 10/2023 đến tháng 08/2024. Đối tượng nghiên cứu được đánh giá bằng thang điểm DIVA và thu thập các yếu tố liên quan. Số liệu được phân tích bằng các phép kiểm thống kê và mô hình hồi quy tuyến tính. Kết quả: Tổng điểm DIVA trung bình ở nhóm phụ nữ không hoạt động tình dục có cao hơn so với nhóm còn hoạt động (2,18 ± 1,1 so với 0,44 ± 0,31; p < 0,001). Điểm của 4 lĩnh vực thành phần: sinh hoạt hằng ngày, cảm xúc, chức năng tình dục và tự cảm nhận bản thân thì điểm số ở nhóm không hoạt động tình dục cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tuổi là yếu tố liên quan mạnh nhất đến điểm số DIVA (r = 0,839; p < 0,001). Mức độ nặng của triệu chứng tiết niệu (OABSS) và chất lượng giấc ngủ kém (PSQI) tương quan thuận với điểm DIVA (lần lượt p < 0,001 và p = 0,045). Kết luận: Hội chứng tiết niệu - sinh dục do mãn kinh ảnh hưởng đáng kể đến phụ nữ quanh mãn kinh, đặc biệt ở nhóm không hoạt động tình dục. Tuổi, triệu chứng tiết niệu và rối loạn giấc ngủ là các yếu tố liên quan đến mức độ ảnh hưởng của hội chứng này. Việc sàng lọc và đánh giá bằng thang điểm DIVA là cần thiết nhằm phát hiện sớm và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ mãn kinh.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1205Khảo sát một số tác nhân ký sinh trùng đường tiêu hóa của động vật có khả năng truyền sang người ở thành phố Huế2026-06-16T19:18:58+07:00Võ Minh Tiếpvmtiep@huemed-univ.edu.vnNgô Thị Minh Châuntmchau@huemed-univ.edu.vn Daria Sannano@gmail.comTôn Nữ Phương Anhtnpanh@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Giangttgiang@huemed-univ.edu.vnNguyễn Phước Vinhnpvinh@huemed-univ.edu.vnHà Thị Ngọc Thuýhtnthuy@huemed-univ.edu.vnĐỗ Thị Bích Thảodtbthao@huemed-univ.edu.vnTôn Thất Đông Dươngttdduong@huemed-univ.edu.vnPhạm Nhật Minhpnminh@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Khoảng 75% bệnh truyền nhiễm quan trọng ở người có nguồn gốc từ động vật. Tại Việt Nam, nhiều tác nhân vi rút và vi khuẩn đã được nghiên cứu và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, các tác nhân ký sinh trùng có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt là đơn bào và giun sán ở nhóm gia súc, gia cầm vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm và thành phần loài ký sinh trùng đường tiêu hoá ở một số loài vật nuôi tại Thành phố Huế và đánh giá sự hiện diện của các tác nhân ký sinh trùng có ý nghĩa trong bệnh lây truyền từ động vật sang người. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành trên 206 mẫu phân thu thập từ các loài vật nuôi gồm chó, mèo, trâu, bò, lợn nhà và lợn rừng tại Thành phố Huế năm 2022 và 2023. Các mẫu được xét nghiệm bằng phương pháp tập trung Formalin–Ether nhằm phát hiện trứng giun sán và đơn bào đường tiêu hóa. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm giun sán chung ở động vật là 48,1%, trong khi tỷ lệ nhiễm đơn bào lên tới 94,8%. Tỷ lệ nhiễm giun sán ở chó mèo, trâu bò, lợn, lợn rừng và dê lần lượt là 50,0%, 65,3%, 36,0%, 18,2% và 60%. Nhiễm đơn bào chủ yếu ghi nhận ở lợn (94,7%), lợn rừng (100%) và dê (90,0%). Đáng chú ý, nhiều loài ký sinh trùng phát hiện được là tác nhân có khả năng lây truyền từ động vật sang người. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở động vật trong nghiên cứu ở mức cao khi sàng lọc bằng kính hiển vi, bao gồm nhiều tác nhân có ý nghĩa trong bệnh lây truyền từ động vật sang người.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1206Năng lực lâm sàng của điều dưỡng và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:18:59+07:00Dương Thị Hồng Liêndthlien@bv.huemed-univ.edu.vnNguyễn Viết Tứno@gmail.comTrương Thị Hânno@gmail.comNguyễn Thị Thànhno@gmail.comDương Thị Diệu Hươngno@gmail.comĐặt vấn đề: Năng lực lâm sàng của điều dưỡng là yếu tố then chốt quyết định chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh. Mục tiêu: Xác định thực trạng năng lực lâm sàng của Điều dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 179 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi năng lực lâm sàng (CCQ) và phân tích bằng thống kê mô tả, tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến (p < 0,05). Kết quả: Năng lực lâm sàng đạt mức khá, trong đó hành vi nghề nghiệp có điểm cao nhất (69,76 ± 7,74), kỹ năng điều dưỡng nâng cao thấp nhất (25,75 ± 3,81). Các yếu tố ảnh hưởng gồm khoa làm việc, thời gian làm việc, đào tạo liên tục và hiệu quả đào tạo (p < 0,05). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy hành vi nghề nghiệp chịu ảnh hưởng bởi khoa lâm sàng và đào tạo liên tục; kỹ năng điều dưỡng cốt lõi và nâng cao chịu ảnh hưởng bởi hiệu quả đào tạo và trình độ học vấn. Kết luận: Năng lực lâm sàng của điều dưỡng ở mức khá, còn hạn chế ở kỹ năng điều dưỡng nâng cao. Các yếu tố ảnh hưởng đa chiều, nổi bật là đào tạo và môi trường làm việc; do đó cần giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trình độ chuyên môn và môi trường thực hành.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1207Giá trị tiên lượng của chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) trước điều trị đối với thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ điều trị bằng EGFR-TKI thế hệ 12026-06-16T19:18:59+07:00Trần Hữu Hải Đăngjadetran.dr@gmail.comPhan Phước Lộcphanloc.work@gmail.comHồ Xuân Dũnghxdung@huemed-univ.edu.vnĐặng Hoàng Anandang678@gmail.comPhan Thị Đỗ Quyêndoquyen_cl@yahoo.comNguyễn Văn Cầunvcau@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Thuỷntthuy.ub@hueuni.edu.vnĐặt vấn đề: Mặc dù liệu pháp nhắm trúng đích bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (EGFR-TKI) đã cải thiện đáng kể tiên lượng cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), sự khác biệt về thời gian sống thêm giữa các cá thể vẫn là một thách thức lâm sàng lớn. Các bằng chứng gần đây cho thấy phản ứng viêm hệ thống đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy vi môi trường u và kháng thuốc. Chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) – kết hợp giữa bạch cầu trung tính, đơn nhân và lympho – được kỳ vọng là một dấu ấn sinh học phản ánh toàn diện sự cân bằng giữa miễn dịch và viêm của cơ thể. Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng của SIRI đối với thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) ở bệnh nhân UTPKTBN điều trị bằng TKI thế hệ 1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu - tiến cứu có theo dõi dọc trên 94 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa có đột biến EGFR, được điều trị bằng thuốc TKI thế hệ 1 (Gefitinib hoặc Erlotinib) tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Chỉ số SIRI được tính toán từ xét nghiệm máu ngoại vi trước điều trị. Đường cong ROC được sử dụng để xác định điểm cắt tối ưu cho SIRI. PFS được phân tích theo phương pháp Kaplan-Meier và kiểm định Log-rank. Mô hình hồi quy Cox đa biến được áp dụng để xác định giá trị tiên lượng độc lập của SIRI sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố lâm sàng. Kết quả: Nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình là 65,83 ± 10,60; giai đoạn IV chiếm 95,7%. Điểm cắt SIRI tối ưu để dự báo PFS là 2,65 (AUC = 0,721; p = 0,001). Trung vị PFS của toàn mẫu là 9,0 tháng. Phân tích sống thêm cho thấy nhóm có SIRI thấp (≤ 2,65) có trung vị PFS dài hơn đáng kể so với nhóm có SIRI cao (> 2,65) (11,0 tháng so với 7,0 tháng; Log-rank p < 0,001). Đặc biệt, phân tích hồi quy Cox đa biến khẳng định SIRI cao trước điều trị là yếu tố tiên lượng độc lập cho PFS ngắn hơn (Hazard Ratio [HR] = 2,39; 95% CI: 1,44 - 3,94; p = 0,001). Các yếu tố lâm sàng khác như tuổi, BMI, ECOG và tình trạng hút thuốc không thể hiện ý nghĩa tiên lượng độc lập (p > 0,05). Kết luận: Chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) là một dấu ấn sinh học đơn giản, rẻ tiền nhưng có ý nghĩa tiên lượng độc lập đối với PFS ở bệnh nhân UTPKTBN điều trị bằng TKI thế hệ 1. Việc ứng dụng SIRI giúp tối ưu hóa phân tầng nguy cơ và hỗ trợ cá thể hóa chiến lược điều trị trong kỷ nguyên của liệu pháp nhắm trúng đích.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1208Nghiên cứu nồng độ leptin ở người đến khám sức khoẻ tại Bệnh viện Trung ương Huế2026-06-16T19:19:00+07:00Hoàng Thị Lan Hươnghganhuong@gmail.comTrần Hữu Dàngthdang@huemed-univ.edu.vnLê Văn Chilvchi@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Leptin do mô mỡ tiết ra liên quan với điều hoà trọng lượng cơ thể. Rối loạn leptin có liên quan với tình trạng béo phì, hội chứng chuyển hoá, kháng insulin. Mục tiêu: Xác định nồng độ leptin và các yếu tố liên quan: tuổi, giới, BMI, hội chứng chuyển hoá, đề kháng insulin. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 163 người từ 18 tuổi trở lên đến khám sức khỏe tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 02 năm 2026. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa nồng độ leptin và các biến số nghiên cứu. Kết quả: Trung vị nồng độ leptin là 1,95 (1,00 - 5,35). Nữ giới có nồng độ leptin 2,91 (1,54 - 9,93) cao hơn nam giới 1,15 (0,39 - 1,92) (p < 0,001). Leptin có xu hướng tăng dần theo BMI ở nhóm thiếu cân là 0,66 (0,18 - 1,45), nhóm bình thường là 1,48 (0,66 - 2,85), nhóm thừa cân béo phì là 3,64 (1,63 - 9,85). Giới, BMI, đề kháng insulin là các yếu tố tương quan độc lập tới nồng độ leptin. Kết luận: Nồng độ leptin ở nhóm người đến khám sức khoẻ tại Bệnh viện Trung ương Huế ở mức thấp. Giới, BMI, đề kháng insulin là các yếu tố tương quan độc lập với nồng độ leptin.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1209Nghiên cứu ứng dụng chỉ số TAD và CalTAD trong đánh giá kết quả điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi bằng đinh PFNA2026-06-16T19:19:01+07:00Trần Nhật Tiếntntien@huemed-univ.edu.vnNguyễn Gia Anngan209202@gmail.comHoàng Bảo Minh Châuchau.21y0035@huemed-univ.edu.vnLê Mỹ Duyênduyenle03032003@gmail.comTôn Thất Nhật Bìnhtonthatnhatbinh@gmail.comVũ Thị Kim Kiềuvukieu2048@gmail.comĐặt vấn đề: Nghiên cứu ứng dụng chỉ số Tip–Apex Distance (TAD) và Calcar-referenced Tip–Apex Distance (CalTAD) trong đánh giá kết quả điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi (LMCXĐ) bằng đinh nội tuỷ đầu trên xương đùi PFNA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 108 bệnh nhân được phẫu thuật gãy LMCXĐ bằng đinh nội tủy PFNA tại Khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình – Lồng ngực, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 03/2023 đến tháng 03/2026. Các chỉ số TAD, CalTAD, góc cổ–thân sau mổ, vị trí vít/chốt cổ–chỏm theo hệ thống Cleveland, thang điểm Harris Hip Score (HHS) và EQ-5D-5L được ghi nhận và phân tích. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 82,67 ± 10,42 tuổi; nữ chiếm đa số với tỷ lệ nữ/nam là 2,6/1. Điểm HHS trung bình sau phẫu thuật đạt 83,2 ± 9,4 điểm; nhóm đạt kết quả chức năng tốt chiếm 44,4%. Giá trị TAD trung bình là 27,1 ± 9,9 mm và CalTAD trung bình là 32,3 ± 8,7 mm. Nhóm bệnh nhân có TAD ≤ 25 mm ghi nhận tỷ lệ HHS tốt cao hơn và tỷ lệ HHS xấu thấp hơn so với nhóm TAD > 25 mm (p = 0,011). Khi áp dụng ngưỡng TAD 34,8 mm, nhóm TAD ≤ 34,8 mm có xu hướng duy trì góc cổ–thân trong khoảng giải phẫu (120° - 130°) tốt hơn. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa CalTAD với HHS, EQ-5D-5L hoặc biến chứng sau mổ. Kết luận: Điều trị gãy LMCXĐ bằng đinh nội tủy PFNA giúp đạt kết quả phục hồi chức năng tương đối tốt ở bệnh nhân lớn tuổi. Chỉ số TAD có liên quan đến kết quả chức năng và chất lượng nắn chỉnh sau phẫu thuật, trong khi CalTAD chưa cho thấy giá trị tiên lượng rõ ràng đối với chức năng vận động hoặc chất lượng cuộc sống sau mổ.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1210Giá trị nhũ ảnh cắt lớp trong chẩn đoán ung thư vú ở mô vú đặc2026-06-16T19:19:02+07:00Lê Thị Kim Cúcdrcucdktn@gmail.comHoàng Thị Ngọc Hàhtnha@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Hoài Thươnghuongngoc.2610@gmail.comPhạm Thị Diễm Thuýdrdiemthuy88@gmail.cMục tiêu: So sánh giá trị của nhũ ảnh cắt lớp (DBT) với nhũ ảnh kỹ thuật số (DM) và đánh giá lợi ích lâm sàng của DBT trong chẩn đoán ung thư vú ở phụ nữ có mô vú đặc. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 110 tổn thương ở 98 phụ nữ (25 - 73 tuổi) có mật độ vú BI-RADS C/D. được chụp DM và DBT cùng ngày tại Trung tâm Y khoa Thiện Nhân Đà Nẵng từ 04/2024 đến 08/2025. Kết quả mô bệnh học sau sinh thiết lõi và/hoặc sau mổ là tiêu chuẩn vàng. Tất cả tổn thương được phân loại theo BI-RADS. Các chỉ số chẩn đoán và hệ số Kappa được phân tích, so sánh hai phương pháp DM và DBT bằng kiểm định McNemar với p < 0,05. Kết quả: DBT cao hơn DM ở tất cả các chỉ số: độ nhạy (95,6% so với 82,2%), độ đặc hiệu (60% so với 52,3%), độ chính xác (74,5% so với 64,5%) và AUC (0,78 so với 0,67). Mức độ đồng thuận giữa DBT và DM đạt Kappa κ = 0,516. DBT hạ bậc 11/65 tổn thương lành và nâng bậc 11/45 tổn thương ác tính, giúp giảm 16,9% sinh thiết không cần thiết. Kết luận: Ở phụ nữ có vú đặc, DBT cải thiện đáng kể độ chính xác chẩn đoán và giúp giảm sinh thiết không cần thiết so với DM.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1211Vai trò nội soi túi tinh qua đường niệu đạo trong chẩn đoán và điều trị xuất tinh máu kháng trị: một số trường hợp lâm sàng và tổng quan y văn2026-06-16T19:19:03+07:00Nguyễn Khoa Hùngnkhung@huemed-univ.edu.vnVõ Minh Nhậtvmnhat@huemed-univ.edu.vnLê Đình Khánhldkhanh@huemed-univ.edu.vnNguyễn Nhật Minhnhatminh2411@gmail.comXuất tinh máu là một triệu chứng tương đối hiếm gặp trong thực hành lâm sàng tiết niệu, đa số là lành tính và tự giới hạn. Tuy nhiên, các trường hợp kéo dài hoặc tái phát có thể liên quan đến các nguyên nhân thực thể như viêm mạn tính, tắc nghẽn đường dẫn tinh hoặc sỏi túi tinh, gây khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Bài viết này nhằm tổng quan các nguyên nhân, phương pháp chẩn đoán và hướng xử trí xuất tinh máu, đồng thời đánh giá vai trò của nội soi túi tinh qua niệu đạo (Transurethral seminal vesiculoscopy – TUSV). Các tài liệu tham khảo được thu thập từ các nghiên cứu y văn trong và ngoài nước liên quan đến xuất tinh máu và TUSV, kết hợp với phân tích loạt 6 ca lâm sàng được thực hiện tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Kết quả cho thấy các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm qua trực tràng và cộng hưởng từ có giá trị định hướng, nhưng còn hạn chế trong việc xác định nguyên nhân chính xác. TUSV cho phép quan sát trực tiếp lòng túi tinh và ống dẫn tinh, giúp phát hiện các tổn thương như chảy máu, sỏi và tắc nghẽn, đồng thời thực hiện điều trị trong cùng một thì can thiệp. Trong loạt ca lâm sàng, tất cả bệnh nhân đều được thực hiện TUSV thành công, với tỷ lệ hết triệu chứng đạt 83,3% và cải thiện rõ rệt 16,7%, không ghi nhận biến chứng. Xu hướng hiện nay cho thấy TUSV ngày càng được ứng dụng rộng rãi như một phương pháp xâm lấn tối thiểu, vừa có giá trị chẩn đoán vừa điều trị hiệu quả trong các trường hợp xuất tinh máu kháng trị. Việc hiểu rõ giải phẫu và chỉ định phù hợp có thể giúp tối ưu hóa hiệu quả của kỹ thuật này trong thực hành lâm sàng.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1212Rào cản về thái độ trong kiểm soát đau do ung thư và các yếu tố liên quan2026-06-16T19:19:04+07:00Lê Thị Thanh Tuyềnltttuyen@smp.udn.vnTrần Hoàng Khánh Minhminh.tranhoangkhanh.mg@gmail.comNguyễn Thanh Quangntquang@smp.udn.vnMục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả rào cản thái độ trong kiểm soát đau và xác định các yếu tố ảnh hưởng ở bệnh nhân ung thư điều trị ngoại trú tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 228 bệnh nhân tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 11/2023 đến tháng 5/2024. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn sử dụng các bộ công cụ: BQII-G12 (rào cản thái độ), MMAS-8 (tuân thủ điều trị) và BPI (cường độ và ảnh hưởng của cơn đau). Kết quả: Kết quả cho thấy điểm trung bình rào cản thái độ là 1,7 ± 0,6 (thang 0 - 5), trong đó rào cản lớn nhất thuộc nhóm “Ảnh hưởng sinh lý” (1,9 ± 0,8) và “Biến cố bất lợi” (1,8 ± 1,2). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác định hai yếu tố dự báo quan trọng: cường độ đau tồi tệ nhất (β = 0,366; p = 0,003) và mức độ tuân thủ điều trị bằng thuốc (β = -0,229; p = 0,001). Kết luận: Nghiên cứu kết luận rằng rào cản thái độ trong kiểm soát đau ở bệnh nhân ung thư chủ yếu liên quan đến lo ngại về tác dụng phụ của thuốc và biến cố bất lợi. Việc kiểm soát đau hiệu quả và nâng cao tuân thủ điều trị có thể giúp giảm thiểu các rào cản này, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc toàn diện.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1213Đặc điểm tổn thương tim ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống2026-06-16T19:19:04+07:00Phạm Minh Trãipmtrai@huemed-univ.edu.vnPhan Linh Thảoplthao@huemed-univ.edu.vnBùi Văn Huấnno@gmail.comTrần Hoài Phươngno@gmail.comNguyễn Thị Phương Thuỷno@gmail.comLê Thúc Hùngno@gmail.comVõ Tamvtam@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Hà Myno@gmail.comĐặt vấn đề: Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là bệnh viêm hệ thống mạn tính và gây tổn thương ở nhiều cơ quan. Tổn thương tim có thể gặp trong nhiều dạng như viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, bệnh động mạch vành, hoặc rối loạn nhịp tim, và có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề, thậm chí tử vong. Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm tổn thương tim ở bệnh nhân SLE và tìm hiểu mối liên quan giữa các tổn thương tim với các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và hồi cứu trên 38 bệnh nhân SLE được chẩn đoán theo tiêu chuẩn SLICC 2012 đang điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ 12/2024 đến 6/2026. Kết quả: Qua nghiên cứu 38 bệnh nhân, tổn thương da, thận, huyết học gặp với tỷ lệ 50 - 75%, biểu hiện tổn thương tim gặp với tỷ lệ 13,1 - 23,7%. Triệu chứng cơ năng tổn thương tim thường gặp là khó thở (18,4%), đau ngực (5,3%). Biểu hiện điện tâm đồ (ECG) hay gặp là nhịp tim nhanh (23,7%) với 88,9% nhịp nhanh xoang và hay gặp ở bệnh nhân có ban cánh bướm (p = 0,013) và nhạy cảm ánh sáng (p = 0,004). Siêu âm tim có tràn dịch màng ngoài tim (13,1%), hở van tim (13,1%) với hở van 2 lá nhiều hơn hở van 3 lá (8,6% so với 5,7%), nhóm có tràn dịch màng ngoài tim có tỷ lệ tế bào lympho thấp hơn (9,2 ± 5,9 so với 21,5 ± 10,9) và chỉ số SLEDAI cao hơn (17,6 ± 8,7 so với 9,6 ± 4,4) nhóm không có tràn dịch màng ngoài tim. Kết luận: Tổn thương tim trong SLE ít gặp hơn các tổn thương ở da, thận, huyết học, miễn dịch. Khó thở là triệu chứng cơ năng hay gặp nhưng không đặc hiệu, không có mối liên quan với các yếu tố khác. Nhịp tim nhanh là tổn thương hay gặp trên ECG, dù không đặc hiệu nhưng có thể là dấu hiệu của đợt bùng phát bệnh hoặc viêm cơ tim và có mối liên quan với các tổn thương da cấp tính. Tràn dịch màng ngoài tim là biểu hiện thường gặp nhất trên siêu âm tim và là biểu hiện của viêm màng ngoài tim trong đợt tiến triển bệnh, liên quan với hoạt động bệnh cao theo chỉ số SLEDAI và giảm tỷ lệ tế bào lympho.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1214Giá trị mô hình dự đoán nguy cơ mổ lấy thai ở sản phụ mang thai con so nguy cơ thấp2026-06-16T19:19:05+07:00Nguyễn Trần Thảo Nguyênnttnguyen@huemed-univ.edu.vnNguyễn Thị Mai Phươngntmphuong.23nt058@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Tỷ lệ mổ lấy thai (MLT) đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu, trở thành thách thức lớn đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Mô hình dự đoán của Janssen được xây dựng nhằm ước tính nguy cơ MLT ở sản phụ con so dựa trên các yếu tố lâm sàng tại thời điểm nhập viện. Tuy nhiên, hiệu năng của mô hình này trên quần thể sản phụ Việt Nam vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ ở sản phụ mang thai con so đủ tháng, đồng thời kiểm định giá trị mô hình Janssen trong dự báo nguy cơ MLT. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến hành trên 250 sản phụ con so, đơn thai, đủ tháng tại Bệnh viện Đại học Y - Dược Huế. Các đặc điểm lâm sàng và sản khoa được thu thập tại thời điểm nhập viện. Phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến xác định các yếu tố dự báo độc lập. Mô hình Janssen được kiểm định ngoài và xây dựng mô hình mở rộng bằng phương pháp lựa chọn biến. Hiệu năng mô hình đánh giá qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và kiểm định Hosmer–Lemeshow. Kết quả: Trong 250 sản phụ, 93 trường hợp MLT (37,2%). Mô hình Janssen có khả năng phân biệt tốt với AUC: 0,824 (KTC 95%: 0,770 - 0,878). Các yếu tố dự báo độc lập bao gồm tuổi mẹ, chiều cao, tuổi thai, độ mở cổ tử cung, tính chất cơn go tử cung, độ lọt ngôi thai, nhận biết chuyển dạ trên 24 giờ và chỉ số khối cơ thể. Mô hình mở rộng cải thiện hiệu năng với AUC: 0,840 (KTC 95%: 0,789 - 0,891), độ nhạy 77,4% và độ đặc hiệu 66,9%. Kết luận: Mô hình Janssen có khả năng dự đoán tốt nguy cơ mổ lấy thai trong quần thể nghiên cứu. Việc bổ sung các yếu tố lâm sàng trong mô hình mở rộng giúp cải thiện hiệu năng dự báo, hỗ trợ ra quyết định và giảm tỷ lệ MLT không cần thiết.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1215Nghiên cứu tuân thủ sử dụng thuốc theo thang điểm ACDS và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân suy tim điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:19:06+07:00Nguyễn Thị Thuỳ Linhnttlinh@bv.huemed-univ.edu.vnHoàng Anh Tiếnhatien@huemed-univ.edu.vnNguyễn Hoàng Lannhlan@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Tuân thủ sử dụng thuốc đóng vai trò quan trọng trong cải thiện triệu chứng, giảm nhập viện và tử vong do suy tim. Thang đo ACDS (Adherence in Chronic Diseases Scale) là công cụ đã được kiểm định để đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc, tuy nhiên chưa được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Trong bối cảnh Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế đang triển khai Chương trình Quản lý Suy tim, việc đánh giá tuân thủ theo ACDS và xác định các yếu tố liên quan là cần thiết nhằm định hướng can thiệp dược lâm sàng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc theo ACDS và xác định các yếu tố liên quan ở bệnh nhân suy tim ngoại trú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân suy tim ≥ 18 tuổi đã điều trị bằng thuốc điều trị suy tim ít nhất 1 tháng trước đó, đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế trong khoảng thời gian từ 07/2024 đến 06/2025. Kết quả: Điểm ACDS trung bình: 25,9 (độ lệch chuẩn 1,2) điểm. Tỷ lệ tuân thủ tốt đạt 34,8%, và tỷ lệ không tuân thủ tốt là 65,2%; trong đó chủ yếu là tuân thủ ở mức độ trung bình (64,6%) và rất ít ở mức kém (0,6%). Tiêu chí có điểm thấp nhất là tư vấn của nhân viên y tế (3,0). Các yếu tố liên quan đến không tuân thủ gồm: ≥ 60 tuổi; không hạn chế muối; mắc bệnh ≥ 5 năm; từng nhập viện vì suy tim; dùng thuốc điều trị suy tim > 1 lần/ngày; và tự nhớ uống thuốc. Kết luận: Tỷ lệ không tuân thủ tốt còn cao. Cần tăng cường tư vấn – giáo dục sức khỏe, đặc biệt vai trò của dược sĩ lâm sàng, kết hợp hỗ trợ từ gia đình và các công cụ nhắc thuốc nhằm cải thiện tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huếhttps://mail.huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1216Đánh giá kết quả chăm sóc sau mổ thay khớp háng ở người cao tuổi tại Khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình - Lồng ngực, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế2026-06-16T19:19:07+07:00Nguyễn Đăng Lưundluu@huemed-univ.edu.vnPhan Đức Thái Duypdtduy@huemed-univ.edu.vnHồ Ngọc Đứchnduc@huemed-univ.edu.vnMai Bá Hảimbhai@huemed-univ.edu.vnHồ Duy Bínhhdbinh@huemed-univ.edu.vnĐặt vấn đề: Phẫu thuật thay khớp háng là giải pháp tối ưu nhằm phục hồi vận động và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Trong đó, công tác chăm sóc và phục hồi chức năng sau mổ đóng vai trò then chốt quyết định hiệu quả điều trị. Mục tiêu: đánh giá kết quả chăm sóc sau mổ thay khớp háng ở người cao tuổi tại Khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình - Lồng ngực, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên phẫu thuật thay khớp háng từ tháng 09/2022 đến tháng 04/2023. Công cụ nghiên cứu gồm bộ đánh giá vết mổ SWAT và thang điểm chức năng khớp háng Merle d’Aubigné - Postel. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS v22.0 thông qua các phép kiểm χ2, test Pearson để phân tích mối liên quan giữa điểm Merle d’Aubigné - Postel và điểm SWAT với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Tuổi trung bình là 78,8 ± 10,1 tuổi, 79,5% có bệnh kèm theo. 100% bệnh nhân được thực hiện y lệnh thuốc/xét nghiệm đúng; trên 70% bệnh nhân được theo dõi toàn thân, tại chỗ, giáo dục sức khỏe (GDSK) về tư thế cần tránh sau mổ; điểm tình trạng vết mổ ngày thứ 5 theo SWAT là 6,9 ± 2,5 điểm; tỉ lệ biến chứng sớm sau mổ chiếm 31,8%; tỉ lệ bệnh nhân đạt chức năng khớp háng trước ngày ra viện mức trung bình trở lên là 29,5%; bệnh kèm và tình trạng bệnh nhân được nhân viên y tế (NVYT) tập phục hồi chức năng tại giường có liên quan đến kết quả chức năng khớp háng. Có mối tương quan nghịch giữa điểm SWAT ngày thứ 5 với điểm chức năng khớp háng sau mổ (r = -0,387). Kết luận: Công tác theo dõi, chăm sóc người cao tuổi sau mổ thay khớp háng cho thấy sự tuân thủ tốt các quy trình lâm sàng, mặc dù vậy tỉ lệ biến chứng sớm và kết quả chức năng khớp háng trước ra viện còn những hạn chế nhất định. Yếu tố bệnh kèm và việc được nhân viên y tế tập phục hồi chức năng tại giường có liên quan đến kết quả chức năng khớp háng sau mổ. Đồng thời, kết quả cũng chỉ ra mối tương quan nghịch giữa điểm SWAT và điểm chức năng khớp háng giai đoạn hậu phẫu.2026-06-18T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế